Lan Anh ·
42 tuần trước
 3317

ĐBSCL: Hiệu quả 'kép' từ mô hình sinh kế bền vững dựa vào mùa nước nổi

Với Dự án “Mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi hỗ trợ chiến lược trữ lũ tại ĐBSCL” đã giúp người nông dân đảm bảo sinh kế, nâng cao thu nhập. Đồng thời góp phần tăng khả năng trữ nước ngọt, khôi phục và bảo tồn các loài thủy sinh cho vùng đồng bằng.

Tăng thu nhập đến 150% cho người nông dân

Dự án “Mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi hỗ trợ chiến lược trữ lũ tại ĐBSCL” đã mang đến cho người nông dân nhiều phương thức sản xuất vừa ứng phó với biến đổi khí hậu, vừa đảm bảo sinh kế. Đồng thời góp phần tăng khả năng trữ nước ngọt, khôi phục và bảo tồn các loài thủy sinh cho vùng đồng bằng.

Từ năm 2018 - 2021, với nguồn tài trợ từ Quỹ Coca Cola, IUCN Việt Nam đã triển khai dự án mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi tại ba tỉnh vùng thượng nguồn ĐBSCL gồm An Giang, Đồng Tháp và Long An. Các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi bao gồm du lịch sinh thái sen, mô hình kết hợp cá sen, lúa mùa nổi, nuôi cá mùa lũ và các loại cây rau nổi khác nhau (ấu, hẹ nước…). Mục tiêu của Dự án là trình diễn các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi trên diện tích 450 ha, bảo tồn và khôi phục 6,7 triệu m3 trong tổng lượng trữ lũ. Kết quả thực tế cho thấy, Dự án đã được thực hiện trên diện tích 470 ha, góp phần bảo tồn và khôi phục 8,6 triệu m3 nước lũ.

ĐBSCL: Hiệu quả 'kép' từ mô hình sinh kế bền vững dựa vào mùa nước nổi - Ảnh 1
Với các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi, trung bình người nông dân có thể kiếm được lợi nhuận cao hơn khoảng 25 - 150%. (Ảnh minh họa)

Mục tiêu của Dự án là trình diễn các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi trên diện tích 450 ha, bảo tồn và khôi phục 6,7 triệu m3 trong tổng lượng trữ lũ. Kết quả thực tế cho thấy, Dự án đã được thực hiện trên diện tích 470 ha, góp phần bảo tồn và khôi phục 8,6 triệu m3 nước lũ. Để có được kết quả này, Dự án đã thực hiện các hoạt động đào tạo cho nông dân xây dựng và thực hiện các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi ít rủi ro nhưng đem lại lợi nhuận cả bên ngoài và bên trong các đê bao. Trung bình, người nông dân có thể kiếm được lợi nhuận cao hơn khoảng 25 - 150% từ các mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi.

PGS.TS Hồ Thanh Bình – Đại học An Giang, cho biết, trở ngại lớn nhất khi phát triển các mô hình này chính là làm sao khuyến khích được khách hàng sẵn sàng trả tiền mua sản phẩm. Điều này sẽ kích thích người dân gắn bó hơn với các mô hình sau khi dự án kết thúc.

Ngoài việc chú trọng chất lượng, cũng cần phát triển các sản phẩm giá trị gia tăng, xây dựng thương hiệu phù hợp để khách hàng biết và đánh giá đúng với giá trị. “Trong vấn đề này, chính sách của nhà nước là yếu tố quyết định. Các sản phẩm sinh ra từ các mô hình mùa nước nổi vừa để sản xuất vừa để bảo vệ môi trường nên cần đưa vào nhóm sản phẩm nhà nước hỗ trợ tiêu thụ giúp bảo vệ môi trường” - ông Bình nhấn mạnh.

Các chuyên gia nhận định, Dự án mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi là một bước ngoặt, góp phần cung cấp cho các đối tác và cộng đồng địa phương cơ hội và kinh nghiệm trực tiếp để thử nghiệm các mô hình khác nhau. Các mô hình nói trên đã chứng minh giải pháp có thể thay thế cho trồng lúa thâm canh mà vẫn đem lại lợi nhuận. Ngoài ra các mô hình còn có khả năng nhân rộng mà không cần đầu tư tốn kém vào cơ sở hạ tầng như đê bao. Điều này hỗ trợ đa dạng hóa nông nghiệp thông qua sản xuất các sản phẩm đa dạng đáp ứng nhu cầu thị trường, thích ứng với các điều kiện khí hậu như lũ lụt và hạn hán, đem lại lợi ích đáng kể về hệ sinh thái và đa dạng sinh học.

Nhân rộng các mô hình sinh kế bền vững

Dự án đã triển khai mô hình trữ nước thông qua các mô hình tạo sinh kế cho người dân vùng nước lũ bằng cách chuyển đổi cơ cấu cây trồng, giảm số vụ đất trồng lúa 2 - 3 vụ/năm sang trồng 1 vụ lúa kết hợp trồng sen, lúa mùa nổi. Qua đó có thể kết hợp thu cá tự nhiên và phát triển du lịch dựa vào mùa nước lũ, giúp cải thiện thu nhập cho người dân và tăng cường trữ nước thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn hán và xâm nhập mặn.

Dự án đã được thực hiện tại 15 điểm, tổ chức 16 khóa tập huấn và đào tạo cho hơn 1.000 nông dân tại 3 tỉnh của Dự án. Dự án đã góp phần hỗ trợ thực hiện Nghị Quyết 120 của chính phủ Việt Nam thông qua việc trình diễn các mô hình thực tế thích ứng với biến đổi khí hậu; bảo tồn và khôi phục chức năng hệ sinh thái đồng lũ vùng Đồng Tháp Mười và Tứ Giác Long Xuyên nhằm đối phó với tình trạng khô hạn và lũ lụt.

ĐBSCL: Hiệu quả 'kép' từ mô hình sinh kế bền vững dựa vào mùa nước nổi - Ảnh 2
Mô hình sinh kế bền vững góp phần hỗ trợ cho chiến lược bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gia tăng khả năng trữ nước ngọt cho vùng ĐBSCL.

Theo đó, kết quả của Đề tài đã được các địa phương ứng dụng vào phát triển kinh tế. Cụ thể, tại xã Tân Kiều, huyện Tháp Mười, tỉnh Đồng Tháp, người dân đã được tập huấn kéo miết tơ sen lấy sợi và kiến thức về kỹ thuật trồng sen. Hiện nghề này đã được lan tỏa sang các tỉnh miền Tây khác như: Bến Tre, An Giang....

“Dự án cũng đã giới thiệu kiến thức mới cho phụ nữ trong vùng về sản xuất sợi tơ có giá trị cao từ cọng sen vốn trước đây không có giá trị kinh tế. Điều đó cũng chứng minh rằng phụ nữ địa phương có khả năng giữ lại giá trị cao của tơ sen ở ĐBSCL bằng cách sản xuất vải sen có giá trị cao. Ngành công nghiệp tiểu thủ công nghiệp đầy tiềm năng này vẫn còn trong giai đoạn sơ khai và cần được hỗ trợ để phát triển hơn nữa”, ông Nguyễn Huy Thắng nhấn mạnh.

Tại tỉnh An Giang, nhiều mô hình thí điểm đã chứng minh tính bền vững, hiệu quả và có tiềm năng nhân rộng. Điển hình là hiệu quả về môi trường của dự án ruộng sen tại xã Tà Đảnh, huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang. Ruộng sen mang lại phù sa hằng năm trung bình từ 0,5 - 0,7 cm, ruộng sen trữ nước bình quân 0,9 m nước, qua đó, giúp cho đất có thêm phù sa, người dân tốn ít chi phí hơn trong vụ lúa Đông Xuân.

Hiệu quả về xã hội, ước mỗi hecta sen tạo việc làm cho 4 lao động trực tiếp, 4 lao động gián tiếp. Đồng thời, mô hình này giúp người dân có sinh kế trong mùa nước, tăng thêm thu nhập… Bên cạnh những lợi ích về kinh tế - xã hội, các mô hình còn góp phần hỗ trợ cho chiến lược bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, gia tăng khả năng trữ nước ngọt cho vùng đồng bằng này.

Bên cạnh những lợi ích về kinh tế, các mô hình còn góp phần hỗ trợ chiến lược bảo tồn tài nguyên thiên nhiên, tăng khả năng trữ nước ngọt, khôi phục và bảo tồn các loài thủy sinh cho vùng đồng bằng. Ngoài ra, lượng phù sa tích tụ trong đồng ruộng cũng giúp tăng độ phì nhiêu của đất, làm giảm nhu cầu phân bón cho cây trồng trong mùa khô, giảm dịch bệnh hại cây trồng, giảm sử dụng thuốc bảo vệ thực vật, tăng các loài thủy sinh tự nhiên, cải thiện đa dạng sinh học và hệ sinh thái canh tác nông nghiệp.

Có thể nói, dự án mô hình sinh kế dựa vào mùa nước nổi đã mang đến cho cộng đồng địa phương cơ hội và kinh nghiệm trực tiếp để thử nghiệm các mô hình khác nhau. Các mô hình nói trên đã chứng minh có thể là giải pháp thay thế cho trồng lúa thâm canh mà vẫn đem lại lợi nhuận. Ngoài ra, các mô hình còn có khả năng nhân rộng mà không cần đầu tư tốn kém vào cơ sở hạ tầng như đê bao.

Nguồn