Ngọc Sang ·
13 tuần trước
 2379

Đồng Nai: Quản lý chặt chẽ tài nguyên nước để phát triển bền vững

Đánh giá nước là nguồn tài nguyên đặc biệt quan trọng trong phát triển bền vững kinh tế - xã hội, tỉnh Đồng Nai đã ban hành nhiều văn bản, quyết định để quản lý, nâng cao nhận thức về bảo vệ nguồn nước.

Vừa qua, ông Nguyễn Hồng Lĩnh, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Nai cùng lãnh đạo một số sở ngành đã đi khảo sát một số công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và làm việc với Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Đồng Nai về nguồn tài nguyên nước.

Tại buổi làm việc, Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Đồng Nai đã báo cáo, trên địa bàn tỉnh hiện có 137 công trình thủy lợi đang hoạt động gồm 18 hồ chứa, 56 đập dâng, 39 trạm bơm, 24 công trình ngăn mặn, ngăn lũ, tiêu thoát lũ. Tổng năng lực phục vụ tưới hàng năm đạt trên 50,8 ngàn ha; tiêu và ngăn mặn cho hơn 9,3 ngàn ha…

Đáng giá về thực trạng bảo vệ nguồn nước, công trình bảo vệ nguồn nước, đại diện Công ty TNHH MTV Khai thác công trình thủy lợi Đồng Nai cho biết, tình hình lấn chiếm, vi phạm đất các công trình thủy lợi vẫn tồn tại và chưa được xử lý dứt điểm; phần lớn các công trình được xây dựng lâu nên đã xuống cấp; việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của các công trình thủy lợi còn chậm…

Tỉnh Đồng Nai chú trọng bảo vệ tài nguyên nước cho mục tiêu phát triển bền vững

Tại buổi làm việc, ông Nguyễn Hồng Lĩnh cho rằng, nguồn tài nguyên nước là đặc biệt quan trọng, địa phương nào có nguồn nước dồi dào sẽ có lợi thế lớn. Hiện nay, Đồng Nai đang cung cấp 136.000 m3 nước/ngày, tỷ lệ các khu công nghiệp, nhà dân sử dụng nước ngầm còn lớn, phải phải tăng cường sử dụng nước mặt thay thế việc sử dụng nước ngầm.

Thời gian tới, Đồng Nai sẽ có TP. Long Thành, TP. Nhơn Trạch dẫn đến dân cư, nhà máy, khu công nghiệp phát triển thì khả năng cung cấp nước của tỉnh phải tăng lên gấp nhiều lần mới đáp ứng được nhu cầu. Vì vậy, Đồng Nai cần xây dựng chiến lược phát triển nguồn nước với mục tiêu cung cấp khoảng 500.000m3/ngày để đáp ứng nhu cầu sinh hoạt, sản xuất trong tương lai.

Ngoài ra, Bí thư Tỉnh ủy tỉnh Đồng Nai yêu cầu, các địa phương phải phát huy tối đa giá trị của mặt nước, hồ nước để vừa là nguồn cung cấp nước vừa là điểm du lịch, không gian sinh thái phục vụ nhân dân, phục vụ kinh tế của địa phương; quan tâm công tác giáo dục, nâng cao nhận thức bảo vệ nguồn nước của người dân, không để xảy ra tình trạng sản xuất nông nghiệp, chăn nuôi ảnh hưởng đến nguồn nước; nếu vi phạm sẽ xử lý. Đơn vị quản lý phải cử người chuyên lo về thủ tục đất đai; các sở, ngành phải hỗ trợ để làm, chỗ nào vướng cần tập trung tháo gỡ.

Bí thư tỉnh ủy Đồng Nai thị sát một số công trình thủy lợi trên địa bàn tỉnh

Trước đó, để bảo vệ tài nguyên nước trên địa bàn tỉnh Đồng Nai, địa phương đã ban hành Danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất để làm cơ sở cho việc thẩm định cấp phép khai thác nước dưới đất, nhằm nâng cao hiệu quả về công tác quản lý tài nguyên nước dưới đất; dự trữ nguồn tài nguyên nước dưới đất góp phần chủ động ứng phó với tình trạng hạn hán, nước biển dâng do biến đổi khí hậu. Đây là cũng là cơ sở để các cơ quan quản lý nhà nước như Sở Xây dựng, sở Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn và các đơn vị cấp nước trên địa bàn tỉnh làm căn cứ để xây dựng, điều chỉnh kế hoạch cấp nước sạch, trong đó ưu tiên các khu vực đang bị hạn chế khai thác nước dưới đất. 

Cụ thể, từ năm 2020 UBND tỉnh Đồng Nai đã chỉ đạo Sở Tài nguyên và Môi trường chủ trì, xây dựng Danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Theo đó, UBND tỉnh ban hành Quyết định số 297/QĐ-UBND ngày 26/01/2022 về việc phê duyệt Danh mục vùng hạn chế khai thác nước dưới đất, khu vực phải đăng ký khai thác nước dưới đất và Bản đồ khoanh định vùng hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai.

Tiếp đó, Sở Tài nguyên và Môi trường cũng tham mưu UBND tỉnh Đồng Nai ban hành Phương án hạn chế khai thác nước dưới đất tại Quyết định số 298/QĐ-UBND ngày 26/01/2022 về việc phê duyệt Phương án tổ chức thực hiện việc hạn chế khai thác nước dưới đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai. Theo đó, nguyên tắc xây dựng phương án khai thác nước dưới đất là phải thực hiện việc hạn chế khai thác nước dưới đất theo lộ trình phù hợp, đảm bảo không gây gián đoạn việc cấp nước. Trong trường hợp khu vực hạn chế khai thác nước dưới đất chưa có hệ thống cấp nước sạch thì vẫn gia hạn giấy phép khai thác nước dưới đất, ưu tiên phục vụ mục đích sinh hoạt, phòng cháy chữa cháy, chống thiên tai…

 Trên cơ sở các vùng hạn chế khai thác nước dưới đất đã được ban hành, các sở, ngành và địa phương căn cứ để ưu tiên xây dựng hệ thống cấp nước sạch cho các vùng bị hạn chế khai thác nước dưới đất.

Theo địa diện Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Đồng Nai chia sẻ, việc ban hành danh mục hạn chế khai thác nước dưới đất rất có ý nghĩa trong việc đảm bảo phát triển công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Khai thác quá mức nước dưới đất mà không có sự kiểm soát chặt sẽ gây ra một số tác động như làm suy giảm mực nước ngầm, gây cạn kiệt tầng chứa nước. Ngoài ra, mực nước ngầm hạ thấp làm tăng nguy cơ xâm nhập chất bẩn từ trên bề mặt xuống các tầng chứa nước, làm biến đổi chất lượng nước, gây ảnh hưởng xấu đến sức khỏe người sử dụng, đặc biệt với tỉnh Đồng Nai có các tầng chứa nước phân bố nông, có mối quan hệ với nước mưa và nước mặt (tầng chứa nước thường lộ trên mặt, được bổ cập trực tiếp từ nguồn nước mưa, nước mặt). Chất bẩn có thể đi theo thành các lỗ khoan có kết cấu cách ly kém để thâm nhập vào tầng chứa nước, làm ô nhiễm nước dưới đất. Quá trình khai thác nước làm cho mực nước hạ thấp sẽ làm tăng độ dốc thủy lực của dòng thấm cũng có thể làm tăng quá trình ô nhiễm… Khi nước dưới đất đã bị ô nhiễm thì việc khắc phục rất khó khăn và phức tạp, không những tốn kém kinh phí xử lý mà còn đòi hỏi thời gian khắc phục lâu dài, tốn kém. Do đó, việc triển khai thực hiện việc hạn chế khai thác nước dưới đất là một trong những biện pháp nhằm bảo vệ nguồn tài nguyên này để sử dụng hợp lý, phục vụ khai thác lâu dài và bền vững.

Theo Cục Quản lý tài nguyên nước (Bộ Tài nguyên và Môi trường) cho biết, bảo vệ, khai thác, sử dụng tài nguyên nước, phòng chống và khắc phục hậu quả, tác hại do nước gây ra đã được tuân theo chiến lược, quy hoạch tài nguyên nước. Tài nguyên nước được quản lý bảo đảm, bảo vệ, khai thác, sử dụng hợp lý tiết kiệm, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh.

Hiện nay, cả nước đã có khoảng hơn 24 nghìn công trình khai thác, sử dụng nước và xả nước thải vào nguồn nước đã được quản lý từ Trung ương đến địa phương thông qua biện pháp, công cụ cấp phép. Trong đó, Bộ TN&MT đã cấp 1.787 Giấy phép tài nguyên nước cho các tổ chức và cá nhân. Ở địa phương, theo số liệu báo cáo, tại 54 tỉnh đã cấp 23.794 Giấy phép tài nguyên nước cho các tổ chức và cá nhân.

Tài nguyên nước đóng góp cho nguồn thu ngân sách của Nhà nước thông qua số thu thuế, tiền cấp quyền khai thác, sử dụng nước của các tổ chức, cá nhân. Triển khai thi hành Nghị định số 82/2017/NĐ-CP của Chính phủ về tiền cấp quyền khai thác tài nguyên nước, Cục Quản lý tài nguyên nước đã thẩm định, trình Bộ phê duyệt cho 774 công trình với tổng số tiền khoảng 11.500 tỷ đồng, tạo nguồn thu cho ngân sách Nhà nước và làm thay đổi nhận thức của cộng đồng đối với hoạt động khai thác, sử dụng tài nguyên nước theo hướng sử dụng tiết kiệm, hiệu quả hơn.

Cục Quản lý tài nguyên nước đã chủ trì xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ ban hành 11 Quy trình vận hành liên hồ chứa trên các lưu vực sông phải xây dựng quy trình bao gồm các lưu vực sông: Ba, Vu Gia - Thu Bồn, Sê San, Srepok, Mã, Cả, Kôn - Hà Thanh, Trà Khúc, sông Hồng, Đồng Nai và lưu vực sông Hương. Cùng với đó, Cục đã trình Bộ để Bộ trình Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Danh mục lưu vực sông gồm 392 sông liên tỉnh làm căn cứ để triển khai các hoạt động quản lý lưu vực sông, phân công, phân cấp quản lý; Bộ đã ban hành Danh mục lưu vực sông nội tỉnh gồm trên 3.045 sông nội tỉnh; danh mục nguồn nước liên tỉnh, nguồn nước liên quốc gia (nguồn nước mặt) gồm 735 sông, suối, kênh, rạch, hồ chứa; công bố giá trị dòng chảy tối thiểu ở hạ lưu các hồ chứa, đập dâng của các công trình thủy lợi, thủy điện đối với 555 hồ chứa, đập dâng của 511 công trình thủy lợi, thủy điện.